Năm 2024, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên áp dụng cả 04 hệ số K thành phần theo các quy định hiện hành để tính toán và chi trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng, từ đó góp phần đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của chủ rừng và các bên liên quan trong thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh, cũng như nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ môi trường.

Điện Biên là tỉnh có diện tích rừng tương đối lớn với 419.894 ha, trong đó, diện tích có rừng tự nhiên là 413.420 ha, diện tích có rừng trồng là 6.474 ha, tỷ lệ che phủ rừng năm 2023 đạt 44,01% (theo Quyết định số 380/QĐ-UBND ngày 23/02/2024 của UBND tỉnh Điện Biên về công bố hiện trạng rừng tỉnh Điện Biên năm 2023). Trong đó, nhiều diện tích rừng có trữ lượng và phần lớn là diện tích rừng đầu nguồn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo vệ an ninh quốc phòng, bảo tồn đa dạng sinh học, môi trường sinh thái, đặc biệt là duy trì nguồn nước, điều hòa nguồn động năng cho sản xuất thủy điện và tạo sinh kế cho người dân...

Thực hiện quy định về áp dụng hệ số K tại khoản 2, mục II, phụ lục VII, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ, từ khi triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Điện Biên đến năm 2021, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng chi trả trên cơ sở quy đổi, áp tính 01 hệ số K3 (nguồn gốc hình thành rừng), năm 2022, Quỹ chi trả trên cơ sở áp tính thêm hệ số K4 (mức độ khó khăn); từ năm 2023 và các năm tiếp theo thực hiện quy định trên của Chính phủ và Công văn số 185/UBND-KTN ngày 12/01/2024 của UBND tỉnh Điện Biên về việc áp dụng hệ số K thành phần trong chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Theo đó, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và các đơn vị có liên quan áp dụng, tính toán mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2023 trở đi cho bên cung ứng DVMTR trên địa bàn tỉnh đầy đủ cả 4 hệ số K.

Việc quy định các hệ số K thành phần là căn cứ để áp tính, xác định hệ số K cho từng lô rừng, làm cơ sở để tính toán mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng (gồm chủ rừng được quy định tại Điều 8 của Luật Lâm nghiệp năm 2017; UBND cấp xã và tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo quy định của pháp luật; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có Hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng với chủ rừng là tổ chức do Nhà nước thành lập). Theo đó, các hệ số K được quy định và áp tính cụ thể như sau:

Hệ số K1: Điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng theo trữ lượng rừng, gồm rừng rất giàu, rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng nghèo kiệt và rừng chưa có trữ lượng. Hệ số K1 có giá trị bằng 1,00 đối với rừng rất giàu và rừng giàu; 0,95 đối với rừng trung bình; 0,90 đối với rừng nghèo, rừng nghèo kiệt và rừng chưa có trữ lượng. Hệ số K1 áp tính theo kết quả kiểm kê rừng mới nhất và kết quả theo dõi diễn biến rừng hàng năm. Đối với trữ lượng rừng trồng; rừng hỗn giao gỗ-tre nứa, rừng hỗn giao tre nứa-gỗ (tính theo thành phần chính) áp theo quy định tại Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và PTNT.

Hệ số K2: Điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng theo mục đích sử dụng rừng, gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất và rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp. Hệ số K2 có giá trị bằng 1,00 đối với rừng đặc dụng; 0,95 đối với rừng phòng hộ; 0,90 đối với rừng sản xuất và rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp. Loại rừng hiện nay áp tính theo mục đích sử dụng rừng trong quyết định giao đất, giao rừng và giao trách nhiệm quản lý rừng của cấp có thẩm quyền (Sau khi cấp thẩm quyền điều chỉnh loại rừng trong quyết định giao đất, giao rừng/giao trách nhiệm quản lý sẽ áp tính theo loại rừng điều chỉnh).

Hệ số K3: Điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng theo nguồn gốc hình thành rừng, gồm rừng tự nhiên và rừng trồng. Hệ số K3 có giá trị bằng 1,00 đối với rừng tự nhiên; 0,90 đối với rừng trồng.

Hệ số K4: Điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng theo mức độ khó khăn được quy định đối với diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng nằm trên địa bàn các xã khu vực I, II, III theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Hệ số K4 có giá trị bằng 1,00 đối với xã thuộc khu vực III; 0,95 đối với xã thuộc khu vực II; 0,90 đối với xã thuộc khu vực I. Đối với xã, thị trấn, phường trên địa bàn tỉnh không có trong danh sách các xã khu vực I, II, III theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, hệ số K4 = 0,9.

Đầu năm 2024, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên đã tiến hành rà soát, thống nhất diện tích có cung ứng DVMTR với các bên liên quan và các chủ rừng, từ đó xác định được tổng diện tích rừng cung ứng DVMTR năm 2023 trên địa bàn toàn tỉnh là 408.259,04 ha (tăng thêm so với năm 2022 là 3.805,48 ha), quy đổi theo 04 hệ số K là 341.717,2 ha; trong đó diện tích rừng đủ điều kiện chi trả tiền DVMTR năm 2023 là 316.359,86 ha, quy đổi theo các hệ số K là 265.766,8 ha. Trong đó, diện tích rừng của tỉnh theo từng hệ số K như sau:

Diện tích rừng theo hệ số K1: Rừng giàu (K1=1): 4.265 ha, phân bố tại các huyện: Nậm Pồ, Mường Chà, Tủa Chùa, Mường Ảng và thành phố Điện Biên Phủ; rừng trung bình (K1=0,95): 33.078 ha; rừng nghèo, nghèo kiệt: 279.017 ha tại 10 huyện, thị xã, thành phố.

Diện tích rừng theo hệ số K2: Rừng đặc dụng (K2=1): 38.476 ha thuộc diện tích rừng đang giao cho Ban quản lý Khu dự trữ thiên nhiên Mường Nhé và Ban quản lý rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng quản lý; rừng phòng hộ (K2=0,95): 177.304 ha; rừng sản xuất (K2=0,9): 99.615 ha; rừng ngoài quy hoạch (K2=0,9): 965 ha.

Rừng tự nhiên thuộc rừng đặc dụng của Ban quản lý rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng tại xã Pá Khoang, thành phố Điện Biên Phủ (K1=0,95, K2=1, K3=1, K4=1)

Diện tích rừng theo hệ số K3: Rừng tự nhiên (K3=1): 312.942 ha; rừng phòng hộ (K3=0,9): 3.418 ha.

Rừng trồng Keo tai tượng thuộc rừng sản xuất tại xã Mường Đăng, huyện Mường Ảng (K1=0,95, K2=0,9, K3=0,9, K4=1)

Diện tích rừng theo hệ số K4: Khu vực I, gồm 27 xã/thị trấn/phường: 43.754 ha; khu vực II gồm 5 xã/thị trấn: 7.316 ha; khu vực III gồm 92 xã: 265.290 ha.

Rừng tự nhiên thuộc rừng phòng hộ tại xã Tênh Phông, huyện Tuần Giáo (K1=0,95, K2=0,95, K3=1, K4=1)

Tính đến ngày 14/8/2024, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã tổ chức chi trả tổng số tiền DVMTR năm 2023 là 207.121 triệu đồng, đạt 97,5% tổng số tiền phải chi trả cho các chủ rừng; trong đó, thanh toán tiền tạm ứng cho các chủ rừng lưu vực Sông Đà cuối năm 2023 là 80.767 triệu đồng; chi trả tiền năm 2023 cho các chủ rừng toàn tỉnh trong năm 2024 là 126.354 triệu đồng, cho tổng số 3.979/5.043 chủ rừng (hiện còn phải chi trả 5.220 triệu đồng đồng cho 1.064 chủ rừng. Đây là các chủ rừng còn chưa đảm bảo về hồ sơ, thủ tục để nhận tiền).

Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng đầy đủ theo 4 hệ số K thành phần đã gắn được trách nhiệm và lợi ích của chủ rừng, người dân đối với rừng, góp phần nâng cao trách nhiệm, cải thiện công tác quản lý, bảo vệ rừng của các chủ rừng, các đơn vị nhận khoán bảo vệ rừng để nâng cao chất lượng rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho các đơn vị sử dụng dịch vụ, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững trên địa bàn tỉnh Điện Biên.


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



 Bình luận


Mã xác thực không đúng.
    PHÁT THANH